1. Khái niệm

Trong quá trình sử dụng, Tài sản cố định bị hao mòn và hư hỏng từng bộ phận do nhiều nguyên nhân khác nhau. Để đảm bảo cho TSCĐ hoạt động bình thường trong suốt thời gian sử dụng, các DN phải tiến hành bảo dưỡng và sửa chữa TSCĐ khi bị hư hỏng.

Do tính chất, mức độ hao mòn và hư hỏng của TSCĐ rất khác nhau nên tính chất và quy mô của công việc sửa chữa TSCĐ cũng  khác nhau.

ke-toan-sua-chua-tai-san-co-dinh

 

2. Các phương pháp sửa chữa tài sản cố định

 * Nếu căn cứ vào quy mô sửa chữa TSCĐ thì công việc sửa chữa TSCĐ chia thành hai loại :

– Sửa chữa thường xuyên, bảo dưỡng: Là hoạt động sửa chữa nhỏ, hoạt động bảo trì, bảo dưỡng theo yêu cầu kĩ thuật nhằm đảm bảo cho TSCĐ hoạt động bình thường. Công việc sửa chữa được tiến hành thường xuyên, thời gian sửa chữa ngắn, chi phí sửa chữa thường phát sinh không lớn do vậy không phải lập dự toán.

– Sửa chữa lớn tài sản cố định: mang tính chất khôi phục hoặc nâng cấp, cải tạo khi TSCĐ bị hư hỏng nặng hoặc theo yêu cầu kĩ thuật đảm bảo nâng cao năng lực sản xuất và hoạt động của TSCĐ. Thời gian tiến hành sửa chữa lớn thường dài, chi phí sửa chữa phát sinh nhiều, do vậy DN phải lập kế hoạch, dự toán theo từng công trình sửa chữa lớn.

* Nếu căn cứ vào phương thức tiến hành sửa chữa TSCĐ thì DN có thể tiến hành sửa chữa TSCĐ theo 2 phương thức:

– Phương thức tự làm: DN phải chi ra các chi phí sửa chữa TSCĐ như: chi phí vật liệu, phụ tùng,nhân công … Công việc sửa chữa TSCĐ có thể do bộ phận quản lý, sử dụng TSCĐ hay bộ phận sản xuất,kinh doanh phụ của DN thực hiện.

– Phương thức thuê ngoài: DN tổ chức cho các đơn vị bên ngoài đấu thầu hoặc giao thầu sửa chữa và kí hợp đồng sửa chữa với đơn vị trúng thầu hoặc nhận thầu. Hợp đồng phải quy định rõ giá giao thầu sửa chữa TSCĐ, thời gian giao nhận TSCĐ, nội dung công việc sửa chữa… Hợp đồng giao thầu sửa chữa TSCĐ là cơ sở để DN quản lý, kiểm tra công tác sửa chữa TSCĐ.

3. Kế toán sửa chữa thường xuyên TSCĐ:

Chi phí sửa chữa thường xuyên TSCĐ khi phát sinh thường được hạch toán thẳng vào chi phí sản xuất kinh doanh của bộ phận có tài sản sửa chữa:

1. Nếu do bộ phận có tài sản tự tiến hành sửa chữa, kế toán ghi:

            Nợ TK 627, 641, 642 (Nếu chí phí sửa chữa nhỏ)

            Nợ TK 142- Chi phí trả trước (Nếu chí phí sửa chữa cần phân bổ dần)

                        Có TK : 111, 152, 334…

Đồng thời xác định mức phân bổ tính vào chi phí SXKD từng kỳ,kế toán ghi:

            Nợ TK 627,641,642

                        Có TK 142- Chi phí trả trước

2. Nếu do bộ phận sản xuất phụ tiến hành sửa chữa mà không tập hợp riêng chi phí của bộ phận sản xuất phụ thì hạch toán như nghiệp vụ 1.

3. Nếu do bộ phận sản xuất phụ tiến hành sửa chữa mà DN có tập hợp chi phí riêng cho từng bộ phận sản xuất phụ thì thực hiện tập hợp chi phí để tính giá thành công trình sửa chữa, sau đó phân bổ giá thành dịch vụ sửa chữa cho bộ phận sử dụng tài sản.

– Khi chi phí sửa chữa thực tế phát sinh,kế toán ghi:

             Nợ TK 621, 622, 627

                        Có TK lq: 111, 152, 153, 334…

– Cuối kỳ kết chuyển chi phí của bộ phận sản xuất phụ, kế toán ghi:

            Nợ TK 154 (Chi tiết PXSX phụ)

                        Có TK 621, 622, 627

– Khi bàn giao TSCĐ sửa chữa hoàn thành cho bộ phận sử dụng TSCĐ, căn cứ giá trị lao vụ sửa chữa hoàn thành do bộ phận sản xuất phụ cung cấp, kế toán ghi:

            Nợ TK 627, 641, 642 ( Nếu chí phí sửa chữa nhỏ)

            Nợ TK 142 (Nếu chí phí sửa chữa cần được phân bổ dần)

                        Có TK 154 (Chi tiết PXSX phụ)

Đồng thời xác định mức phân bổ tính vào chi phí SXKD của bộ phận sử dụng TSCĐ từng kỳ, kế toán ghi:

            Nợ TK 627, 641, 642

                        Có TK 142- Chi phí trả trước

4. Nếu thuê ngoài sửa chữa thì số tiền phải trả cho đơn vị sửa chữa, kế toán ghi:

            Nợ TK 627, 641, 642, 142

            Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ                 

                       Có TK 111,331…

Trả lời